Bệnh đái tháo đường (tiểu đường) – hiểu sao cho đúng?

Cập nhật ngày 31, Tháng Bảy, 2019, Thuộc Bệnh, Đái tháo đường

Bạn có thể tải về máy file PDF nội dung tài liệu này tại đây: Tải về file PDF

Nguồn gốc của danh từ bệnh đái tháo đường (tiểu đường)?

Bệnh đái tháo đường còn được gọi là bệnh tiểu đường. Từ thuở xưa, không có các xét nghiệm hiện đại như ngày nay nên khi quan sát nước tiểu bị kiến bu hoặc nếm nước tiểu thấy ngọt người ta gọi là bệnh tiểu tường, tức tiểu ra đường. Khi tiểu ra đường thì thường sẽ đi kèm theo các triệu chứng như tiểu nhiều, khát nước uống nhiều, đói nhiều, ăn nhiều nhưng lại gầy đi nhiều, trong Đông Y gọi là chứng tiêu khát. Đái tháo đường thường được chia thành các loại gồm: đái tháo đường tuýp 1 (thường do bẩm sinh, thấy ở người trẻ, triệu chứng rầm rộ), đái tháo đường tuýp 2 (mắc bệnh lúc lớn, triệu chứng âm thầm), đái tháo đường thai kỳ (xảy ra trong thai kỳ) và các loại khác.

Tại sao các triệu chứng đó lại xuất hiện đồng loạt như vậy?

Bình thường lượng đường trong cơ thể khi đi qua thận sẽ được thận giữ lại không để thải ra nước tiểu. Khi cơ và mỡ không sử dụng được đường, lượng đường trong máu quá cao (≥180mg/dL) khiến thận không thể giữ lại hết được sẽ làm đường bị thải ra nước tiểu. Nước tiểu có nhiều đường cũng kéo theo lượng nước thẩm thấu ra nhiều hơn dẫn đến tình trạng tiểu nhiều. Tiểu nhiều khiến cơ thể mất nước dẫn đến tình trạng khát nước uống nhiều. Bên cạnh đó, cơ và mỡ không sử dụng được đường trong máu làm cho cơ thể mau đói và ngày càng gầy ốm đi dù người bệnh có ăn nhiều hơn.

Bệnh đái tháo đường ngày nay không phải là phải đái ra đường?

Ngày nay Y học phát triển, từ những chứng cứ Y học người ta thấy rằng lượng đường huyết đói trong cơ thể nếu duy trì ở mức ổn định dưới < 100 mg/dL thì sẽ là tốt nhất cho cơ thể, nếu đường huyết lúc đói (lấy vào trước buổi ăn sáng sau khi đã nhịn ăn qua đêm ít nhất 8 tiếng) cao hơn trị số 100 mg/dL nhưng vẫn dưới 126 mg/dL thì sẽ được gọi là tiền đái tháo đường, nếu đường huyết từ 126 mg/dL trở lên thì là mắc bệnh đái tháo đường. Như vậy lượng đường trong máu để được chẩn đoán là bệnh đái tháo đường thấp hơn nhiều so với lượng đường trong máu có thể gây ra tình trạng tiểu ra đường. Tức là nếu bạn có lượng đường huyết từ trên 126 mg/dL và dưới 180 mg/dL thì bạn vẫn sẽ được chẩn đoán là đái tháo đường dù trên thực tế bạn chưa tiểu ra đường. Như vậy hiện nay, mắc bệnh đái tháo đường không có nghĩa là đi tiểu ra đường và chính vì thế đa số người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường nhưng không có các triệu chứng như tiểu nhiều, khát nước uống nhiều, đói nhiều ăn nhiều và gầy nhiều. Do đó để biết được bản thân có bị bệnh đái tháo đường (tiểu đường) hay không thì phải cần làm các xét nghiệm về đường huyết mới biết chính xác được. Hiện nay người ta dựa vào nhiều xét nghiệm khác nhau để chẩn đoán bệnh đái tháo đường như: HbA1C, đường huyết đói tĩnh mạch, đường huyết tĩnh mạch bất kỳ và nghiệm pháp dung nạp glucose. Thông thường bạn sẽ được làm xét nghiệm HbA1C và đường huyết đói tĩnh mạch để bác sĩ chẩn đoán bệnh.

Bệnh đái tháo đường (tiểu đường) - hiểu sao cho đúng?

Bệnh đái tháo đường (tiểu đường) – hiểu sao cho đúng?

Người bệnh hiện nay đã hiểu đúng để phát hiện bệnh sớm?

Ở nước ta hiện nay do dân trí chưa cao nên đa số người bệnh tiểu đường thường đến khám ở các giai đoạn trễ khi mà triệu chứng đã biểu hiện rõ như tiểu kiến bu, tiểu nhiều, khát nhiều, ăn nhiều mau đói, sụt cân nhiều, dễ nhiễm trùng, vết thương lâu lành hoặc ở giai đoạn bệnh tiểu đường đã có biến chứng thần kinh (đột quỵ, yếu liệt các cơ, tê dị cảm, mất cảm giác, tăng tiết mồ hôi nửa người trên giảm tiết mồ hôi nửa người dưới,…), tim mạch (đau ngực, giảm gắng sức, khó thở,…), thận (tiểu đục, tiểu máu, suy thận,…), mắt (mờ mắt, giảm thị lực,…), bàn chân đái tháo đường (mất cảm giác, loét, nhiễm trùng, biến dạng,…), thậm chí nhiều người bệnh nhập cấp cứu trong các tình huống biến chứng cấp nặng nề như hôn mê tăng đường huyết, nhiễm toan máu ảnh hưởng nguy kịch đến tính mạng, lúc này mới tình cờ phát hiện bản thân bị đái tháo đường.

Lợi ích của việc phát hiện sớm bệnh đái tháo đường?

Phát hiện ra tình trạng tăng đường huyết, điều trị kiểm soát tốt ngay cả khi còn ở giai đoạn tiền đái tháo đường sẽ có lợi ích rất lớn. Các lợi ích này bao gồm hạn chế được hoặc tránh được việc dẫn đến bệnh đái tháo đường thật sự, hạn chế thấp nhất các nguy cơ biến chứng lên thần kinh, tim mạch, thận, mắt, bàn chân đái tháo đường, phòng tránh các biến chứng cấp nguy hiểm đến tính mạng như hôn mê tăng đường huyết, toan máu. Hơn nữa, việc phát hiện sớm đái tháo đường sẽ giúp rất nhiều trong việc kiểm soát thành công căn bệnh này bằng thuốc hoặc không dùng thuốc, làm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Ai là người có nguy cơ mắc bệnh và cần phải tầm soát sớm bệnh đái tháo đường?

Tất cả người trên 45 tuổi đều phải được tầm soát đái tháo đường hoặc những người thừa cân béo phì, mập bụng, vòng bụng hơn 90cm ở nam và hơn 80cm ở nữ, những người ít vận động, gia đình trực hệ có người bị đái tháo đường, người có bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, người có tiền sử đái tháo đường thai kỳ, phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg, đa ối hoặc sẩy thai nhiều lần, phụ nữ có bệnh buồng trứng đa nang.

Xin mời theo dõi bài tiếp theo: Lưu ý một số loại thuốc viên đường uống dùng để điều trị đái tháo đường type 2

Bác sĩ Trần Hòa An – Bacsinoigi.com
Khi đăng lại bài viết này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn.




Click Xem thêm: , , , ,