Đái tháo đường tuýp 2 và những biến chứng nguy hiểm

Cập nhật ngày 26, Tháng Tám, 2019, Thuộc Bệnh, Đái tháo đường

Bạn có thể tải về máy file PDF nội dung tài liệu này tại đây: Tải về file PDF

Thế nào là đái tháo đường tuýp 2?

Insulin là một chất do tế bào tụy tiết ra, chất này có tác dụng giúp cho tế bào cơ và mỡ trong cơ thể hấp thu và sử dụng được đường trong máu. Đái tháo đường tuýp 2 còn gọi là đái tháo đường loại 2, tiểu đường loại 2 biểu hiện một tình trạng đường trong máu cao do sự đề kháng và thiếu hụt tương đối insulin hoặc có thể là thiếu hụt tuyệt đối insulin nếu ở giai đoạn trễ.

Tình trạng này có nghĩa là cơ thể vốn còn tạo ra được insulin tuy nhiên do sự đề kháng insulin khiến cho tế bào cơ và mỡ không sử dụng được đường trong máu, dẫn đến tình trạng tăng đường huyết. Về lâu dài, tế bào tụy tiết ra nhiều insulin để bù trừ cho tình trạng đề kháng này sẽ làm suy tế bào tụy dẫn đến cơ thể thật sự thiếu hụt insulin.

Biến chứng cấp tính đe dọa đến tính mạng của đái tháo đường tuýp 2

Biến chứng toan ceton máu: khi đường huyết tăng quá cao mà cơ thể không sử dụng được, tự cơ thể sẽ tổng hợp các hợp chất ceton, hợp chất này có tính a-xít sẽ làm cho máu bị nhiễm a-xít còn gọi là toan ceton máu. Biến chứng này xảy ra khi người bệnh không kiểm soát đường huyết tốt, lượng đường trong máu tăng cao (thường lớn hơn 300 mg/dL). Biểu hiện bởi các triệu chứng báo động như: tiểu nhiều, khát nhiều rầm rộ, người bệnh bị rối loạn tri giác, mệt mỏi, người khô teo do mất nước nhiều, chán ăn, buồn nôn, ói mửa, đau bụng và có thế chảy máu đường tiêu hóa như ói ra máu hoặc đi tiêu phân đen. Nếu tiếp tục diễn tiến và không được chữa trị kịp thời người bệnh sẽ mất nước rõ rệt (choáng, mạch nhanh, hồi hộp, trống ngực, nước tiểu ít hoặc không có nước tiểu, người khô gầy teo đét rõ rệt), thân nhiệt hạ, khó thở, nhịp thở nhanh và sâu, hơi thở có mùi trái cây chín thối và dần đi vào hôn mê rất dễ tử vong nếu không được điều tị kịp thời.

Biến chứng hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: nếu đường huyết tăng cao lên đến 600 mg/dL sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu của máu, ảnh hưởng trực tiếp lên não bộ. Các triệu chứng báo động tình trạng tăng đường huyết quá cao tượng tự trong biến chứng toan ceton máu. Nếu không kiểm soát đường huyết kịp thời người bệnh sẽ rối loạn tri giác, tổn thương hệ thần kinh (giảm cảm giác, yếu liệt các cơ, bán manh mắt, rung cơ, co giật,…), tăng thân nhiệt, khó thở nhịp thở nhanh sâu và đi vào hôn mê dẫn đến tử cong nếu không được xử trí ngay.

Biến chứng hạ đường huyết (tụt đường): biến chứng này xảy ra ở người bệnh đái tháo đường đang được điều trị. Khi sử dụng một số thuốc hạ đường và đặc biệt là khi sử dụng insulin mà không tuân thủ theo hướng dẫn của Bác sĩ rất dễ đưa người bệnh vào tình trạng hạ đường huyết. Hạ đường huyết được định nghĩa khi đường huyết dưới 54 mg/dL. Tuy nhiên khi đường huyết xuống dưới 70 mg/dL cần phải bắt đầu lưu tâm. Triệu chứng của hạ đường huyết: cảm giác đói lã, người mệt mỏi đuối sức, buồn nôn, hoa mắt, vã mồ hôi, tim nhanh, hồi hộp, chân tay lạnh, nặng có thể gây ra lơ mơ, hôn mê, co giật, thậm chí là chết não và tử vong.

Biến chứng mạn tính kẻ giết người âm thầm

– Biến chứng lên não và thần kinh: tình trạng đường huyết tăng cao kéo dài làm các mạch máu nuôi não bị tổn thương có thể gây ra đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua, yếu liệt một số dây thần kinh, tê bì rối loạn cảm giác ở các sợi thần kinh nhỏ hơn nhất là ở chi dưới và cả tác động lên hệ thần kinh tự chủ.

Các biểu hiện cụ thể:

+ Đột quỵ (còn gọi là tai biến mạch máu não): gây ra tình trạng đau đầu, chóng mặt, yếu liệt, có thể kèm rối loạn cảm giác nửa người đột ngột, bệnh cấp tính nguy đến tính mạng cần phải xử trí cấp cứu. Hậu quả để lại là tàn tật.

+ Thiếu máu não thoáng qua: là tình trạng tương tự như đột quỵ tuy nhiên thường sẽ khỏi trong vòng 1 giờ và không kéo dài quá 1 ngày.

+ Yếu liệt một số dây thần kinh: thường xuất hiện ở các dây thần kinh sọ biểu hiện như liệt mặt, liệt các cơ vận động mắt,…

+ Tê bì rối loạn cảm giác ở các dây thần kinh nhỏ: thường xuất hiện ở 2 chi dưới, gây tê bì kiểu mang găng mang vớ (tê tăng dần từ dưới lên), loạn cảm giác, thường gây giảm hoặc mất cảm giác.

+ Tác động lên hệ thần kinh tự chủ: gây giảm tiết mồ hôi nửa người phía dưới, tăng tiết mồ hôi nửa người trên. Rối loạn hệ thống thần kinh tự chủ ở bàng quang gây “bàng quang thần kinh” biểu hiện qua tình trạng đi tiểu, mắc tiểu bất thường…

– Biến chứng lên tim mạch: gây ra các bệnh lý về mạch vành như nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim cục bộ ổn định hoặc không ổn định. Biểu hiện qua triệu chứng đau ngực, khó thở, thậm chí tử vong.

– Biến chứng lên thận: gây ra bệnh thận đái tháo đường, dẫn đến suy thận.

– Biến chứng lên mắt: gây ra bệnh võng mạc đái tháo đường làm giảm thị lực có thể dẫn đế mù lòa.

– Biến chứng lên hệ thống miễn dịch: hệ thống miễn dịch ở người tăng đường huyết thường suy giảm rất đáng kể đặc biệt ở các bệnh nhân đái tháo đường đã lâu. Tình trạng này làm người bệnh dễ bị nhiễm trùng, nhiễm trùng khó lành, diễn tiến nhanh và nguy hiểm hơn, tăng cao tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn.

– Bàn chân đái tháo đường: ở người đái tháo đường, phần xa cơ thể ít được tim đưa máu đến sẽ dễ gây ra các tổn thương nhất là 2 bàn chân. 2 bàn chân ở người đái tháo đường sẽ giảm hoặc mất cảm giác do tổn thương các sợi thần kinh nhỏ làm cho người bệnh không cảm giác được khi bàn chân bị thương (dẫm đinh, xơ chai loét, trầy xước do vật nhọn, cắt khóe móng gây tổn thương da,…), da khô do giảm tiết mồ hôi làm sự đề kháng da giảm đi, dinh dưỡng nuôi chân kém do các mạch máu bị chít hẹp làm các vết thương khó lành, kết hợp với tình trạng suy giảm miễn dịch làm cho vi khuẩn xâm nhập vào sâu khó trị. Từ những thuận lợi này người có bàn chân đái tháo đường rất dễ bị nhiễm trùng khó trị, nếu nặng cần phải cắt cụt chi.

– Ngoài ra còn nhiều biến chứng khác.

Mời các bạn theo dõi tiếp bài viết Lưu ý một số loại thuốc viên đường uống dùng để điều trị đái tháo đường type 2

Bác sĩ Trần Hòa An – Bacsinoigi.com
Khi đăng lại bài viết này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn.




Click Xem thêm: , , , , , ,